Thay Thái Độ Đổi Cuộc Đời...

CHIA KIẾN THỨC - SẺ NIỀM VUI

Dành Cho Quảng Cáo

Responsive Ads Here

Sunday, 23 June 2019

Cách nhớ chữ Hán rất THÚ VỊ


Chữ Nhiên ( ) nghĩa là " thịt chó nướng "
"Nghiêng nghiêng bóng nguyệt xế tà (
),
Trên lầu chó sủa (
), canh gà điểm tư ()" 
Đêm tàn nguyệt
xế về Tây, 
Chó sủa
canh chầy, trống lại điểm tư.
Chữ : (như, như là, căn cứ theo...) được giải thích như sau
Miệng(
口) nói ra thì phụ nữ (女)phải nghe theo, và làm theo như thế 
Đừng bạn nào thấy chữ
đứng trước chữ thì hiểu theo cách con gái nói gì thì phải làm theo nhé(mà nên hiểu là con gái phải làm theo những gì mình nói)
Bắc sào cho đỉa leo lên ()
Tả trên (
), nguyệt dưới (), lênh đênh mái chèo ()
---> chữ TÙY
Tiếng khuyển hai mồm nghe thảm khốc  
Thiên
không sáo trúc tiếu trần gian.
Là chữ khốc
 
và chữ tiếu
Ông vua () mà mọc hai sừng (),
Hai mươi (
) cái miệng () xin đừng quên tôi.
--> chữ THIỆN
Hạt thóc ( ), hạt thóc (), phẩy đuôi trê ( ),
Thập trên (
), nhất dưới () , bẻ què lê ()
---> chữ PHÁP
Cây chôn dưới ruộng ăn ngay được
Lửa đốt dòng sông thế mới gay
mỹ 
Con dê ăn cỏ đầu non, 
Bị lửa cháy hết không còn chút đuôi.

phu
Thương em, anh muốn nên duyên, 
Sợ e em có chữ thiên trồi đầu
dũng
Khen cho thằng nhỏ có tài, 
Đầu đội cái mão đứng hoài trăm năm.

Ruộng kia ai cất lên cao, 
Nửa vầng trăng khuyết, ba sao giữa trời.
uy
Em là con gái đồng trinh 
Chờ người tuổi Tuất gá mình vô em.
giáo
Đất cứng mà cắm sào sâu, 
Con lay chẳng nổi, cha bâu đầu vào.
tắc
Một vại mà kê hai chân, 
Con dao cái cuốc để gần một bên.
chương 
Chữ lập đập chữ viết, 
Chữ viết đập chữ thập.
tỉnh
Nhị hình, nhất thể, tứ chi, bát đầu, 
Tứ bát, nhất bát phi toàn ngưỡng lưu.
giả 
Ông thổ vác cây tre, đè bà nhật.
tự
Muốn cho nhị mộc thành lâm 
Trồng cây chi tử tiếng tăm lâu ngày.
hảo
Thiếp là con gái còn son, 
Nếp hằng giữ vẹn ngặt con dựa kề.
tất
Anh kia tay ngón xuyên tâm.
thời 
Mặt trời đã xế về chùa.
tùy
Đóng cọc liễu leo, tả trên nhục dưới, giải bơi chèo.
thủy
Con gái mà đứng éo le,
Chồng con chưa có kè kè mang thai.
Chữ "Trung" giữ lấy làm đầu
"Nhất" lòng gìn giữ một màu không phai
người sang-trọng, kẻ trang-đài 
anh đồ, em hỏi hình-hài chữ chi?
Chữ
:貴
Chó nhà cùng với chó ta
Hai con nói chuyện
thì ra chữ gì?
Thì ra chữ này :
Lưỡng nhật bình đầu nhật 
Tứ sơn điên đảo sơn 
Lưỡng vương tranh nhất quốc 
Tứ khẩu tung hoành giang.
Chữ:
Tựa cây () mỏi mắt () chờ mong
Người nơi xa ấy trong lòng (
) có hay?
Chữ:
Chim chích mà đậu cành tre
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.
(Chiết tự chữ đức
)
- Đấm một đấm, hai tay ôm quàng
Thuyền chèo trên núi, thiếp hỏi chàng chữ chi ?
- Lại đây anh nói nhỏ em nì
Ấy là chữ mật một khi rõ ràng.
Đấm một đấm hai tay ôm quàng là dáng dấp của bộ miên thuyền chèo là dáng dấp của chữ tất , thuyền chèo trên núi, trên chữ sơn có chữ tất . Ghép lại chúng ta được chữ mật (bí mật, rậm rạp)
- Đất thì là đất bùn ao,
Ai cắm cây sào sao lại chẳng ngay.
Con ai mà đứng ở đây,
Đứng thì chẳng đứng, vịn ngay vào sào. (Chữ hiếu
)

Hán: Thổ 
Miệng
có dính đất thì phải nhổ ra
:
tì : thay thế, hộ, giúp
 
3 người (
  + ) thay cho 3 người (  + ) thay nhau làm việc cả ngày ---> tì: thay thế
tồn còn: là chữ Tài đi với bộ Tử .Tạm hiểu là: người con có tài thì để ra được của cải ( tồn = còn), nếu bất tài thì chẳng để Tồn ra cái gì hết,chỉ tổ làm phiền cha mẹ.
Tiền trước: theo sách: thuộc bộ đao. Là một người dừng bước( chỉ)trên thuyền( chu), sau lưng giắt một con dao. Tôi đoán ý muốn nói đến người Đứng mũi chịu sào - người phía trước - Tiền .
Hậu sau.thuộc bộ Xích. có chữ Yêu, là bé( trong 214 bộ thủ- từ nay tôi xin gõ 214)- tiểu yêu, với xích- bước ngắn - và tri( 214)- theo sau mà đến( khó nhọc). 
Đã Bé, bước ngắn, lại còn Đi theo sau thì tất nhiên phải đi sau( Hậu ) thôi!
chữ Bất: không , thuộc bộ  
là chữ tượng hình với hình con chim(^I) bay vút lên trời( -) 
, nghĩa là" mất hút", BẤT khả kiến.
Chữ Thị- shi4- nghĩa là : Là, phải, đúng. thuộc bộ Nhật,trên là Nhật, dưới là chính . Đã Chính lại còn " quang" thì tất nhiên là Phải rồi! 
Nhật nguyệt soi đích THỊ 
người quân tử Chính nhân ( chữ THị)"
Chữ Ngã
Thuộc bộ Qua
. Là ghép bộ qua và chữ Thủ. Đây là chữ Hội ý. 
Tôi nghĩ ngày xưa, chiến tranh liên miên, để tự khẳng định cái TÔI cửa mình, người Võ sỹ lược lưỡng, tai cầm ngọn giáo: Tôi đây!
 
phần trên là tay trái, đang bốc thịt
月肉. 
Tay trái vừa thò xuống 
CÓ ngay miếng Thịt nướng.
CHữ Sỹ học Một biết Mười  
Chữ Thổ là một cái chồi đâm lên.

Chữ Tài, chồi nảy sang bên

Chữ Tại là Thổ, Tài trên biến hình.
Tử khoanh tay thành Liễu, 
Liễu
độicao thành hanh 
Hanh
thông và hưởng thụ 
Do vất vả mà thành

Chàng ơi ! chẳng thấy chàng sang, 
Bây giờ chữ "liễu "
nét ngang mất rồi ( tử )!
Trăng kia luồn dưới cỏ hoa , 
Chịu dao
kề cổ ... chẳng qua vì "tiền "
"Trai Tam Sơn đứng núi Tam Sơn, 
Sơn
sơn xuất anh hùng hào kiệt "
Trạng Quỳnh bén mảng xung quanh nhà Đoàn thị Điểm, bị Quan Bảng (tức Đoàn Doãn Nghi, thân sinh Đoàn thị Điểm, trong "truyện Trạng Quỳnh" là bảng nhãn, nhưng theo tài liệu thì đậu hương cống, mở trường dạy học rất có tiếng) tóm được.
Quỳnh nói : "Tôi là học trò, thấy quan trường bình văn, tôi đến nghe trộm" . 
Quan Bảng nói : "có phải học trò thì ta ra cho một câu đối , không đối được ta cho ăn đòn "
Bèn ra câu đối :
Thằng quỷ ôm cái đấu đứng cửa khôi nguyên
Quỳnh ứng khẩu đối ngay :
Con mộc dựa cây bàng dòm nhà bảng nhãn
Chữ Nhẫn: gồm bộ đao (đao kiếm) ở trên, dưới là bộ tâm (quả tim, tâm trí, tấm lòng). Chữ Nhẫn có lẽ biểu thị tình huống tác động mạnh mẽ đến tâm (tâm linh) như lưỡi dao chạm vào tim mà vẫn nên bình tĩnh cân nhắc vấn đề, bình tâm mà đối xử.
BẦN  
Trong chữ Bần cấu-tạo đến ba phần: trên là chữ bát
(bát là tám), kế đến là chữ đao (đao là dao dùng để cắt chặt ra); hai chữ này họp lại thành chữ phân (phân là chia) dưới cùng là chữ bối (bối là đồng tiền) Có nghĩa rằng sở-dĩ nghèo là vì có nhiều tiền mà cứ phân phát ra cho thiên-hạ giống như ta có một cái bánh mà chia ra làm tám miếng thì tất nhiên nó sẽ nhỏ dần, do đó nghèo.
Vì thế cái nghèo này là cái nghèo của những tâm hồn lớn, đạo-đức luôn nghĩ đến kẻ khác.
Người tu nên học lấy “chữ Bần” của Thượng-Đế.
Có bài thơ như vầy:
Tròi-trọi mình không mới thiệt BẦN.
Một nhành sen trắng náu-nương chân.
Ở nhà mượn đám mây xanh kịt.
Đỡ gót nhờ con hạc trắng ngần.
Bố-hóa người đời gây mối Đạo.
Gia-ân đồ-đệ dựng nền NHÂN.
Chừng nào đất dậy trời thay xác
Chư Phật, Thánh, Tiên xuống ở trần
nghĩa là bế tắc, gồm có chữ bất ở trên, chữ Khẩu ở dưới, là ám chỉ con người không có miệng hay nói khác đi dầu cho có miệng cũng không nói được thành lời, dẫu có nói đi nữa là phải nói theo sự đặt để của người khác
Phân tích chữ chánh thấy có hai chữ Thượng và Hạ hiệp lại, tức là người có tâm chánh thì không xu nịnh người trên, không hiếp đáp người dưới mà đời cho rằng “Thượng đội Hạ đạp”.
Giải thấy có 3 phần: bên trái là chữ Giác là cái sừng. Bên phải là chữ đao ở trên, là con dao, chữ ngưu dưới (ngưu là trâu). Tức nhiên muốn giải quyết cái sừng ra khỏi đầu con trâu thì phải dùng con dao mà mổ lấy ra. Trong cách mổ như vậy gọi là giải-phẫu. Cách phẫu thuật phải cẩn thận, kỹ lưỡng, không vội-vã, không hấp tấp thì sẽ thành công.
TÌNH là một sự cảm mến thân thiết nhau. Nếu kể sự dài và lâu phải nói đến tình cảm vợ chồng. Chữ này họp bởi bộ Tâmlà tấm lòng với chữ Tinh là cái tinh tuý, tốt lành. Hai món nợ này khó đi đôi cho đặng. Là một vấn đề khó giải quyết xưa nay. Hãy nghe
Phân tích chữ KHỔ thấy có hai phần: phần chính yếu là âm CỔ là xưa, là một việc đã có tự lâu đời rồi mà miệng (khẩu ) vẫn còn nhắc đến mười (thập ) lần, tiếp diễn không dứt. Một bộ thảo là cỏ đặt ở bên trên, nghĩa chung chữ khổ là luật định của vũ trụ không khác, tuy nhiên nếu người biết tu, tức là hoán cải cái khổ này cũng dễ như giọt sương trên ngọn cỏ mà thôi.
Nghĩa thấy có hai phần:
Phần trên là chữ Dương
là con dê, phần dưới là chữ ngã là ta (c’est-à-moi). Dê là một trong ba con vật người xưa thường đem ra tế Thần linh, tế cả Trời đất nữa, như Đàn Nam-giao còn dấu tích, hình ảnh nơi Cung Đình Huế còn đó. Ba con vật đem tế sống như vậy gọi là Tam sanh: Trâu, Dê, Heo. Mỗi một vật này nó phải chịu hy sinh mạng sống thay cho giống loại của nó mà cúng tế, đó là
một việc làm có ân nghĩa vậy: tức là tinh thần Hiến dâng. Còn chữ Ngã là ta đặt ở dưới sự hy sinh, tức là tinh thần phụng sự. Thế nên khi hai chữ này đặt lên nhau thành ra chữ NGHĨA
là một đức tính cao đẹp, nó gồm đủ tính cách Hiến dâng và Phụng sự. Đức Hộ-Pháp nói:
Ngục là nhà giam: gồm có bộ khuyểnlà con chó, thêm phía sau là chữ khuyển , ở giữa là ngôn là lời nói. Hễ là tù rồi thì người ta đối xử như con vật, con chó, có miệng cũng không nói được gì. Người giữ ngục hầu như cũng mất tính người! Nhà tù là để trừng giới kẻ trái pháp-luật.
- Chữ ÂM bên trái có bộ Phụ là núi đất; bên phải phía trên là chữ Kim có hình như cái nóc nhà, bên dưới chữ Vân ý nói bị che khuất nên tối tăm. Do đó Âm là chỉ phía mặt trời bị che khuất. Bởi, phía có mặt trời chiếu vào thì sáng sủa ấm áp, cây cối phát triển; còn phía ánh sáng mặt trời bị che khuất thì tối tăm, lạnh lẽo, cây cối không phát triển.
- Chữ DƯƠNG
gồm 2 phần: Bên trái là là bộ Phụ là núi đất, bên phải có chữ Nhựt là mặt trời đứng trên đường ngang, ý nói mặt trời đã mọc lên khỏi đường chơn trời, bên dưới là chữ Vật vẽ hình giống các tia sáng rọi xuống. Do đó, chữ Dương có nghĩa là phía có ánh sáng mặt trời chiếu vào, nên sáng sủa.
là khai = mở, nở hoa, mới, là hình ảnh hai tay đẩy hai cánh cửa (môn là cửa) ra ngoài
CHỦ Tất cả các yếu-lý để làm một con người toàn thiện là phải đủ 4 đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí (tượng chữ vương 4 nét). Chữ Chủ sẽ thấy trước tiên là ba vạch liền tượng trưng cho Tam tài, trên trời, dưới đất, giữa là người. Thêm một nét sổ thẳng qua thành ra chữ Vương . Đặt phía trên một nét chủ.
Gia tại sao chữ thỉ (con heo) lại đặt dưới bộ miên là mái nhà? Bởi người xưa thấy trong gia đình có bàn tay người nữ phái là cần kiệm, chu đáo, lo lắng dành dụm, nuôi vài con heo, xem như bỏ ống để khi chi dụng bán ra có thêm tiền. có câu: Đàn bà thì phải nuôi heo, Thời vận còn nghèo nuối chửa được trâu.
Phục bên phải bộ nhân bên trái chữ khuyển, chỉ con chó nằm cạnh bên người. Chữ Phục hàm ý là nằm xuống, phủ phục, áp mặt vào, nghĩa mở rộng là ẩn nấp, trốn tránh, mai phục, hay chỉ sự khuất phục, thuần phục
Thú nghĩa là thú vui, ham thích: gồm bộ TẨU () và âm đọc THỦ (). Âm THỦ () lại gồm NHĨ ( mimi Tai) và HỰU (), tức là “lại nghe thấy”, ý nghĩa là “lấy, lấy về”. Bước ra cuộc sống để tìm lấy những thú vui để mang lại lợi ích, niềm vui cho bản thân mình
Việt : nghĩa là vượt qua, Việt Nam, được viết theo lối chữ Triện thời Tây Hán. Chữ tẩu dùng để xác định ý nghĩa và chữ qua dùng xác định cách phát âm. Chữ Việt giống như một người cầm cái qua (). Trong Hán ngữ chữ “qua” () có nghĩa là cái mác (vũ khí)
Diễn (số nét: 14) 1. diễn ra 2. diễn thuyết, diễn giảng, nói rõ 3. làm thử, mô phỏng, tập trước: được ghép đầu tiên bộ THỦY () vì đã diễn thì phải nói, văng nước miếng tùm lum, nên bộ chính phải là bộ Thủy, Bên trên là cái nón đội, rất cầu kỳ còn có chỏm nữa bộ Miên (), phần dưới là đầu (-), cổ (|), phần thân () và 2 chân (). Cuộc đời giống như một sân khấu, kiếp người giống của một màn kịch, do vậy con người chính là 1 diễn viên trong đó , sẽ có lúc sẽ hiền hoà như 1 dòng sông chảy trôi chảy (Thuỷ), đôi khi phải mạnh mẽ, oai vệ như loài thú dữ (Dần)
HẠ mùa HÈ (HẠ) tới : mùa hè ĐI DẠO (bộ Tuy đi chậm, đi dạo) nhìn (MỤC ) lên ngửa cổ (`) thấy có 1 () mặt trời
Quý : sự trung thành (chữ Trung ) là một thứ ( chữ Nhất ) bảo bối (chữ Bối) đáng quý, đáng trân trọng.
Trụ 1. ở, trú, trọ. 2. dừng lại. Người () làm chủ () nơi họ cư ngụ, sinh sống ()
Sở nơi chốn. Sau cánh cửa là nơi () người xưa dựng rìu chữ cân [jīn]
Kinh thủ đô. Thực chất đây là chữ tượng hình, vẽ một ngôi nhà trên đồi
Bao gồm 3 chữ Khẩu hợp vào nhau
(Ý nghĩa) => Phẩm, Vật phẩm. Chỗ này chắc là giải thích 3 cái mồm chập vào hét to đòi quà ==> vật phẩm (cách giải thích này cho vui để dễ nhớ)
Một chàng trai ướm lời hỏi thăm:
Thấy em cũng muốn làm quen
Lại sợ em có chữ Thiên trồi đầu.
Cô gái thành thực trả lời:
Anh ơi chớ nói thêm rầu
Chữ Thiên trồi đầu lại có vết vai.
Để hiểu được lời đối đáp này, người đọc cần phải giải mã bằng “chìa khóa” chiết tự. Trong lời của chàng trai: Thấy em cũng muốn làm quen - Lại sợ em có chữ Thiên trồi đầu. Ý chàng trai muốn làm quen với người phụ nữ nhưng lại sợ người ta có chồng rồi. Vì chữ Thiên [
] thêm nét đầu cho nhô cao một chút nữa sẽ thành chữ Phu [] Chữ Phu [] có nghĩa là chồng.
Trong ca dao thể hiện lời đáp của ngời phụ nữ: “Chữ Thiên trồi đầu” tức chỉ chữ phu [
] nhưng lại có thêm “vết vai” thành chữ Thất [] nghĩa là mất. Ý người phụ nữ muốn nói, tuy cô đã có chồng nhưng chồng cô cũng đã mất rồi.
Bấy lâu em vắng đi đâu
Bây giờ thiên đã mọc đầu ra chưa?
Và cô gái cũng đã chân thành chia sẽ:
Từ ngày thiếp vắng mặt chàng
Bây giờ liễu đã có ngang ra rồi.
Cũng giống như bài ca dao trên, chàng trai muốn hỏi cô gái có chồng chưa. Cô gái trả lời: “Liễu đã có ngang” tức chữ Tử [
] (chữ Liễu [] nghĩa là rõ hoặc hết, đồng âm với chữ Liễu [] chỉ cây liễu vốn là hình ảnh tượng trưng cho người con gái trong thơ ca cổ liễu yếu đào tơ, phận liễu bồ…), nếu chữ Liễu [] thêm một nét ngang thì thành chữ Tử [] có nghĩa là con). Ý cô gái muốn nói, chẳng những cô đã có chồng mà còn có con nữa.
Hoặc:
Ông trời đội mũ đi chơi
Em xin một tấm… ông thời nghĩ sao?
Ông trời tức chữ Thiên [
] mà lại “đội mũ” tức là thêm một nét nhô trên đầu, sẽ thành chữ Phu [] có nghĩa là chồng. Hơn nữa, ở câu cuối: “Cho em xin một tấm…” rồi ba chấm thì người học cũng sẽ đoán ra đó là tấm chồng tức chữ Phu [].
Bác là người học rộng, hiểu nhiều, uyên bác
Bác sĩ phải có lòng nhân ái, thương người, chữ nhân ái gồm chữ nhị và nhân (người) có ý nghĩa hai người mới có lòng nhân ái, người thầy thuốc có bệnh nhân mới có lòng nhân, và người bệnh nhân quý mến người thầy thuốc cũng là nhân, thương yêu nhau. Nếu chỉ có một vế thì sẽ là “tình đơn phương” hay “lương y như dì ghẻ”?.
cuồng
ý: điên
insane điên cuồng mất trí
lunatic điên dại
khuyểnđòi làm vua đúng là mất trí,điên
Hữu
yòu
tay phải thường là tay đưa cơm vào miệng( trừ người thuận tay trái)

Vương (ông vua)
Tam giới Trời - Đất - Âm ty (3 nét hoành) kết hợp lại bằng nét sổ, ý nói là bá chủ tam giới => ông vua mới có quyền lực như vậy.
Hảo (tốt, hay)
Phụ nữ () + đứa bé trai (), ý nói người phụ nữ mang thai bé trai. Người xưa quan niệm phụ nữ sanh được bé trai là việc tốt, việc hay.
câu chuyện đã qua 10 cái miệng kể rồi thì trở thành cũ
Chữ Xuân
Mùa xuân thì chính là tết.
tết thì phải có đánh bài.
đánh bài thường có 4 người chơi (
+ ) 3 gạch chính là 3 người cộng thêm chữ Nhân nữa là 4 người.
Thế nhưng đánh đánh bài thì đâu có đánh 1 tiếng hay vài tiếng, đánh bài cả ngày mừ. cộng chữ Nhật vào ta ra được chữ Xuân ( + + 日ーーー>春)
gồm chữ điền và chữ lực
Người đàn ông là lao động chính trong gia đình
Mà công việc phổ biến nhất ngày xưa là làm đồng
=>Nam nhi là người sử dụng sức lực của mình để gánh vác công việc làm ruộng
sương
nước mưa đọng từng giọt trên cây giống giọt nước đọng trên mắt => chính là sương
- Giải nghĩa từ NAM (chữ Hán ): gồm hai chữ ghép thành. Đó là chữ ĐIỀN (là ruộng) và chữ LỰC (sức mạnh). Nghĩa là: người đàn ông phải bỏ sức ra cày ruộng (vì là chủ gia đình).
- Giải nghĩa từ HƯU () [là: nghỉ]. Gồm có hai bộ: bộ nhân đứng và bộ mộc . Có nghĩa người ta làm mệt thì tìm đến cây mà nghỉ
- Giải nghĩa từ TÍN () [là: tin tưởng]. Gồm hai bộ: bộ nhân đứng và bộ ngôn . Có nghĩa là lời người nói đáng tin.
Nhâm
thai
ý: có thai
phụ nữ có thai thường được cưng chiều như vua
Đất thì là đất bùn ao,
Ai cắm cây sào sao lại chẳng ngay.
Con ai mà đứng ở đây,
Đứng thì chẳng đứng, vịn ngay vào sào.
Chữ nghĩa là hiếu
Cũng có chiết tự: Chữ
này được ghép từ chữ (người con) và chữ (đất) cùng với dấu / tượng trưng cho thanh kiếm, với ý nói người con chống kiếm đứng trông phần mộ của bố mẹ. Đúng với quan niệm ngày xưa khi bố mẹ mất thì người con có hiếu là người con chăm lo phần mộ của bố mẹ trong vòng 3 năm !!
hoa
cây cỏ sau một thời gian phát triển sẽ có hoa
cỏ( bộ thảo) hoá( chữ hóa) => hoa

TÍN
là con người
đã nói ra lời thì phải giữ lời nói của mình , nghĩa là tạo uy tín cho cá nhân
Thiếp là con gái còn son,
Nếp hằng giữ vẹn ngặt con dựa kề.
Chữ hảo

thánh
ý: thánh thần , tài ba
người có một tai một miệng mà đứng trên vua
=> người này hoặc là thánh

hoăc là người tài ba
tai
ý : điêù ko may, tai hoạ
lửa tượng trưng cho sự ấm áp và may mắn, nhưng nước sông chảy qua làm lửa tắt, điều may mắn đi mất , có tai hoạ
sầu
buồn bã
tâm trạng con người vào mùa thu thường buồn , buồn vô cớ , tự nhiên buồn
:làm việc chăm chỉ
Gồm chữ nô ở trên và chữ lực ở dưới.
Nô lệ mà lao động chắc là phải rất siêng năng.
: chữ nô;
Chữ nữ bên cạnh hình 2 cánh tay.ám chỉ người phục vụ, làm nô lệ
Chữ gāo: Miêu tả một bức tranh của một thành tháp cao có đỉnh, có nóc, có phần dưới và một lỗ để đi vào bên trong.
Chữ : Giống như một bức tranh miêu tả cảnh ngày xưa: Ngày xưa thịt bán ngoài tiệm thường được xâu thành chuỗi và treo lên. Vì thế, nghĩa là nhiều, nhiêu
Chữ 想:nghĩ, nhớ, muốn..
bao gồm 3 chữ (trái tim), (cây), và (mắt)Ngồi dưới gốc cây, mắt mở không thôi để suy nghĩ. Ngày xưa có chuyện buồn là hay trốn ra một nơi vắng vẻ suy nghĩ, tĩnh tâm. Có chữ là do suy nghĩ có liên quan đến lí trí, trái tim.
然: Bộ nhục là thịt, bên cạnh là chữ khuyển đặt trên bộ hỏa: Nghĩa là thịt chó nướng..
:Mồm kẻ sĩ khi đã nói là phải nói ra những điều hay lẽ dẹp
tẩy
ý : rửa
muốn rửa
cái gì trước tiên phải dùng nước
Niệm : là tuởng nhớ, nhớ đến.
- chữ Niệm (
): gồm chữ Kim () ở trên và chữ Tâm () ở dưới.
- Lúc nào (
) cũng để nỗi nhớ nhung đầy ắp ở trong lòng() là chữ Niệm.
- Chữ ÂM : gồm bên trái có bộ Phụ là núi đất; bên phải phía trên là chữ Kim có hình như cái nóc nhà, bên dưới chữ Vân ý nói bị che khuất nên tối tăm...! 
- Chữ Âm hàm ý chỉ phía mặt trời bị che khuất sau đỉnh núi, chỉ còn đám mây mờ,...!
- Theo quan niệm dân gian của người Á Đông, thì khi nói người khuất núi, hàm ý đang nói đến người đã quá cố, đã qua đời, người đã đi về cõi âm,..

No comments:

Post a comment